1. Đặt vấn đề
Ở Việt Nam, dân tộc Cờ Lao (hay một số nơi gọi là dân tộc Cơ Lao) là một dân tộc có dân số ít, được xếp vào nhóm ngôn ngữ Kađai cùng với các tộc người La Chí, La Ha và Pu Péo. Người Cờ Lao được gọi theo âm Hán - Việt là Kel Lao từ những chữ Cách Liêu, Cách Lão... Sau này họ đọc chệch Kel Lao thành Cờ Lao . Về nguồn gốc của người Cờ Lao, GS Trần Quốc Vượng khẳng định: “Kel Lao là con cháu của người Lão hay Cưu Lão xưa ở Trường Khả”. Về quê hương cổ xưa, các nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng Quý Châu là quê của người Cờ Lao. Có thể nói, trong quá trình cộng sinh với điều kiện khắc nghiệt của vùng núi cao, dân tộc Cờ Lao đã bảo tồn và sáng tạo những giá trị văn hóa đặc sắc, phản ánh bản sắc riêng, phân biệt với các dân tộc khác. Các thành tố văn hóa tộc người được các nhóm Cờ Lao có ý thức bảo tồn, trao truyền và phát triển từ thế hệ này qua thế hệ khác. Trong môi trường cộng đồng làng, dòng họ, gia đình, cũng như trong quá trình tiếp xúc với các tộc người khác, dân tộc Cờ Lao đã và đang khẳng định những sắc thái riêng, đồng thời góp phần làm phong phú cho kho tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam thống nhất trong đa dạng. Đặc trưng về đời sống văn hóa tinh thần, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Cờ Lao đã cho thấy được truyền thống văn hóa tốt đẹp “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam, tôn trọng lịch sử, quá khứ và trọng tình nghĩa.
2. Phương pháp nghiên cứu
2.1. Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp
Phương pháp này được sử dụng để thu thập các nguồn thông tin, tài liệu sẵn có từ các sở, ban ngành liên quan như tài liệu thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh, các giáo trình, các đề tài nghiên cứu trước, từ cộng đồng địa phương, từ các tổ chức kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh và huyện, các bài viết trên sách báo, tạp chí, internet… Trên cơ sở các tài liệu thu thập được, tác giả thực hiện xử lý để có thể dụng đúng mục đích nghiên cứu của đề tài đặt ra.
2.2. Phương pháp thu thập tài liệu sơ cấp
Dân tộc Cờ Lao có 3 nhóm: Cờ Lao Đỏ, Cờ Lao Trắng, Cờ Lao Xanh. Trong quá trình nghiên cứu tiến hành đi thực địa tại huyện Hoàng Su Phì là một trong những huyện có nhiều đồng bào Cờ Lao sinh sống. Các hoạt động chính trong tiến hành phương pháp này là: Quan sát, mô tả, điều tra, ghi chép, chụp ảnh, quay phim, gặp gỡ trao đổi với chính quyền địa phương, đồng bào Cờ Lao tại các bản làng, khách du lịch đến với huyện Hoàng Su Phì, các ban quản lý tài nguyên, các cơ sở quản lý chuyên ngành ở địa phương và cộng đồng sở tại.
Đề tài thực hiện điều tra qua phiếu điều tra được xây dựng với 2 thứ tiếng: tiếng Kinh và tiếng Cờ Lao (chữ Hán) tiếng Cờ Lao thuộc hệ ngôn ngữ Tai-Kadai nhưng ngày nay còn rất ít người nói được thứ tiếng này, do các ngôn ngữ người Cờ Lao khác nhau rất nhiều nên tại Trung Quốc tiếng Quan Thoại đã dược sử dụng là ngôn ngữ chung của người Cờ Lao hiện tại, để nhằm hiểu được tâm tư, nguyện vọng của đồng bào thông qua việc phỏng vấn tiếp xúc với đồng bào. Từ đó có thể đưa ra những giải pháp giúp đồng bào duy trì các giá trị văn hóa truyền thống đề thu hút du lịch.
Đề tài xây dựng phiếu điều tra phỏng vấn 20 khách du lịch đến tham gia các lễ hội văn hóa của dân tộc Cờ Lao tại huyện Hoàng Su Phì
2.3. Phương pháp xử lý thông tin, số liệu
Phương pháp này được sử dụng trong việc thống kê các số liệu của hoạt động văn hóa, dân số, điều kiện phát triển kinh tế của người Cờ Lao là những số liệu mang tính định lượng. Trên cơ sở khai thác từ những nguồn khác nhau, các số liệu được đưa vào xử lý và phân tích, mô tả để rút ra được những kết luận, đánh giá có tính chất thực tiễn cao
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Khái quát chung về huyện Hoàng Su Phì
Có thể nói, trong những năm vừa qua, cụ thể là giai đoạn 2020-2022, mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid – 19, nhưng kinh tế của huyện Hoàng Su Phì tăng trưởng ổn định, bền vững. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch đúng hướng, giảm dần tỷ trọng phát triển nông, lâm nghiệp sang phát triển thương mại, dịch vụ. An ninh lương thực được đảm bảo, thực hiện tốt việc hỗ trợ sản xuất nông nghiệp gắn với xây dựng mỗi xã một sản phẩm OCOP với 23 sản phẩm đã được công nhân. Cơ sở vật chất hạ tầng được quan tâm đầu tư 100% xã, thị trấn có đường cứng hoá đến trung tâm, 100% số thôn có đường xe cơ giới đến trung tâm thôn, 100% thôn, tổ dân phố có nhà văn hoá kiên cố; 03 xã được công nhận đạt chuẩn về xây dựng nông thôn mới. Lĩnh vực du lịch tạo được bước đột phá, lượng khách du lịch vào địa bàn tăng hàng năm với tổng số khách du lịch đến huyện năm 2022 đạt 94.250 lượt khách (trong đó khách nước ngoài 2.030 lượt), doanh thu ước đạt trên 80,2 tỷ đồng. Năm 2023 huyện phấn đấu thu hút 125.000 lượt khác đến với các cơ sở du lịch.
3.2. Thực trạng và tiềm năng phát triển du lịch văn hóa của dân tộc Cờ Lao
3.2.1. Lịch sử hình thành của dân tộc Cờ Lao và bức tranh phân bố
Bảng 1: Phân bố dân số của dân tộc Cờ Lao tại Việt Nam
|
STT
|
Địa điểm có dân tộc Cờ Lao sinh sống
|
Tổng số (người)
|
Tỷ lệ (%)
|
|
1
|
Hà Giang
|
2.922
|
73,00
|
|
2
|
Tuyên Quang
|
78
|
1,95
|
|
3
|
Hà Nội
|
121
|
3,02
|
|
4
|
Bắc Kạn
|
2
|
0,05
|
|
5
|
Lào Cai
|
5
|
0,12
|
|
6
|
Lai Châu
|
6
|
0,15
|
|
7
|
Hòa Bình
|
8
|
0,20
|
|
8
|
Thái Nguyên
|
45
|
1,12
|
|
9
|
Quảng Ninh
|
25
|
0,62
|
|
10
|
Bắc Giang
|
108
|
2,70
|
|
11
|
Vĩnh Phúc
|
28
|
0,70
|
|
12
|
Hải Dương
|
48
|
1,20
|
|
13
|
Hải Phòng
|
17
|
0,42
|
|
14
|
Hưng Yên
|
10
|
0,25
|
|
15
|
Hà Nam
|
3
|
0,07
|
|
16
|
Nam Định
|
4
|
0,10
|
|
17
|
Ninh Bình
|
4
|
0,10
|
|
18
|
Nghệ An
|
3
|
0,07
|
|
19
|
Hà Tĩnh
|
2
|
0,05
|
|
20
|
Quảng Bình
|
1
|
0,02
|
|
21
|
Bình Thuận
|
5
|
0,12
|
|
22
|
Kon Tum
|
11
|
0,27
|
|
23
|
Gia Lai
|
16
|
0,40
|
|
24
|
Đắk Lắk
|
32
|
0,80
|
|
25
|
Đắk Nông
|
23
|
0,57
|
|
26
|
Lâm Đồng
|
14
|
0,35
|
|
27
|
Bình Phước
|
11
|
0,27
|
|
28
|
Tây Ninh
|
91
|
2,27
|
|
29
|
Bình Dương
|
173
|
4,32
|
|
30
|
Đồng Nai
|
19
|
0,47
|
|
31
|
Bà Rịa Vũng Tàu
|
15
|
0,37
|
|
32
|
TP Hồ Chí Minh
|
153
|
3,82
|
|
Tổng
|
4.003
|
100,00
|
|
(Nguồn: Ủy ban dân tộc, UBND tỉnh Hà Giang)
3.2.2.Hiện trạng và tiềm năng phát triển du lịch gắn với văn hóa của dân tộc Cờ Lao
Để các giá trị văn hóa tại các điểm đến của dân tộc Cờ Lao thực sự trở thành một điểm du lịch văn hóa xứng đáng với những giá trị to lớn và độc đáo mà nó có, với sự quan tâm và nhu cầu của du khách, cần có một cách nhận thức đầy đủ, toàn diện và thỏa đáng về mối quan hệ giữa văn hóa du lịch và du lịch văn hóa, từ đó để có một cách ứng xử đúng đắn và khoa học, khai thác tốt tài nguyên du lịch tại đây nhằm tạo ra được một kết quả tốt hơn, hiệu quả cao hơn.
Bảng 2: Các giá trị văn hóa vật thể có tiềm năng đưa vào khai thác du lịch của dân tộc Cơ Lao
Huyện vùng cao Hoàng Su Phì có sản phẩm du lịch đặc trưng đó là danh thắng ruộng bậc thang trên sườn dãy núi Tây Côn Lĩnh hùng vĩ..Các khu Ruộng bậc thang được khai thác bởi dân tộc Cờ Lao và các dân tộc khác của huyện Hoàng Su Phì đã được xếp hạng danh thắng quốc gia, hàng năm thu hút rất nhiều du khách đến và trải nghiệm vẻ đẹp hùng vĩ tại nơi đây.
Để có được danh thắng này, cộng đồng các dân tộc Cờ Lao, Dao, Tày, Nùng, La Chí đã cần cù lao động, nắm vững kỹ thuật canh tác trên đất dốc, tạo nên hàng nghìn ha ruộng bậc thang. Ruộng bậc thang trồng lúa nước không chỉ đem lại no ấm cho người dân bản địa, đó còn là bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp trong mùa lúa chín. Do đó, từ năm 2012 đến nay, huyện Hoàng Su Phì đã tổ chức định kỳ hằng năm chương trình du lịch “Qua những miền di sản ruộng bậc thang” với nhiều hoạt động văn hóa ý nghĩa, mang đậm bản sắc văn hóa các dân tộc. Và điểm đến xã Túng Sán nơi có nhiều dân tộc Cơ Lao sinh sống nhất cũng là một trong những điểm có ruộng bậc thang đẹp nhất Hoàng Su Phì
Sôi động và hào hứng nhất trong Lễ hội là các trò chơi dân gian như kéo co, đẩy gậy, đánh cù... Không chỉ những thanh niên cường tráng, khỏe mạnh tìm đến các môn thể thao này, mà những người lớn tuổi, người già cũng háo hức tham gia. Trong tiếng reo hò cỗ vũ của khán giả, các vận động viên đến từ các đội cùng nhau thi đấu hết mình. Với thể thức thi đấu vòng tròn, các đội tham gia đều phải trải qua nhiều vòng thi để chọn ra đội nhất, nhì, ba. Các trò chơi dân gian này không những rèn luyện sức khỏe và mang tính giải trí mà còn khuyến khích nhân dân đoàn kết, phát huy sức mạnh và tính sáng tạo trong lao động sản xuất. Tuy nhiên các trò chơi này lại chỉ được tổ chức khi có lễ hội, chưa được mở rộng đưa vào khai thác như một sản phẩm du lịch thu hút khách du lịch
Bảng 3: Các giá trị văn hóa phi vật thể có tiềm năng đưa vào khai thác du lịch của dân tộc Cơ Lao
|
-
|
|---|
Vào mùng 06 tháng Sáu Âm lịch hàng năm, bà con cùng nhau làm Lễ cầu mùa chung tại miếu Hoàng Vần Thùng. Sau đó, các hộ gia đình về làm lễ riêng. Lễ cầu mùa là nghi lễ quan trọng của người Cờ Lao đỏ với quan niệm Tổ tiên và các Thần linh là thế lực luôn phù hộ, che chở để có sự yên lành cho cuộc sống của con người và vật nuôi, để cây trồng tươi tốt.
Mỗi dịp cúng Hoàng Vần Thùng ở trên miếu thờ thì phải bắt buộc cúng gia tiên, thổ công tại một gia đình đại diện cho các gia đình, dòng họ. Điều này cũng thể hiện sự tôn kính của mỗi gia đình với ông Hoàng Vần Thùng: “Thực ra thì trong tiềm thức của người dân ở đây, nhân vật lịch sử Hoàng Vần Thùng được coi như một vị tiền nhân, vị tổ tiên, người có công góp chung với cả cộng đồng và với các gia đình người Cờ Lao. Như vậy, nhân vật Hoàng Vần Thùng được coi như một nhân vật rất gắn bó thân thiết như là một người đã sinh ra họ”. Có một điều đáng chú ý là ở nghi lễ cúng Hoàng Vần Thùng và cúng Gia tiên, Thổ công của người Cờ Lao bao giờ các con vật hiến dâng cho Thần và tổ tiên phải cúng sống trước, sau đó mới được thịt, rồi nấu chín lại cúng tiếp.
Sau phần lễ cúng tại miếu thờ Hoàng Vần Thùng và cúng gia tiên, thổ công tại gia đình đại diện, các hộ gia đình được chia lộc và cùng nhau tổ chức ăn uống. Các nghệ nhân, các chàng trai cô gái lại trổ những ngòn nghề tài hoa nhất trên các loại nhạc cụ truyền thống, thi hát dân ca và tham gia các môn thể thao truyền thống, tạo nên một không khí hết sức sôi động, thể hiện tính gắn bó, đoàn kết trong cộng đồng, là một nét văn hóa có thể đưa vào để phát triển du lịch.
Cờ Lao là dân tộc yêu văn nghệ và có một vốn văn nghệ dân gian đa dạng về loại hình. Kho tàng văn học truyền miệng của họ khá phong phú với các thể loại như truyện thần kỳ, cổ tích, ngụ ngôn, tục ngữ, thành ngữ, ca dao, dân ca. Tuy nhiên hình thức du lịch này lại chưa được khai thác.
Từ bao đời nay, người dân Cờ Lao có nghề đan lát các vật dụng từ tre, trúc. Ban đầu để phục vụ sản xuất, đời sống của mỗi nhà, rồi mang bán ở các chợ phiên, được người dân ưa chuộng và có thêm thu nhập. Cứ thế hệ này đến thế hệ khác, nghề đan lát được người dân trong thôn truyền dạy cho nhau, duy trì và phát triển. Vì thế việc khai thác du lịch theo hướng làng nghề truyền thống là một hướng đi mới cho đồng bào dân tộc Cờ Lao tại Hoàng Su Phì.
Bảng 4: Ý kiến của du khách về mối quan hệ giữa du lịch và văn hóa
|
Nội dung câu hỏi
|
Tỷ lệ %
|
Tỷ lệ %
|
|
1. Ông/bà đã từng nghe nói về du lịch gắn với giá trị văn hóa chưa?
|
20
|
0
|
|
2. Ông/bà đã từng nghe nói về Văn hóa du lịch chưa?
|
20
|
0
|
|
3. Ông/bà có biết gì về mối quan hệ giữa văn hóa du lịch và du lịch văn hóa không?
|
10
|
10
|
|
4. Theo ông/bà thái độ ứng xử của khách du lịch khi đi du lịch có tạo nên văn hóa du lịch cho điểm đến không?
|
20
|
0
|
|
5. Theo ông/bà hành vi, thái độ ứng xử của người làm du lịch với khách du lịch có tạo nên văn hóa du lịch cho điểm đến không?
|
20
|
0
|
|
6. Ông/bà đã từng tham gia vào trải nghiệm du lịch văn hóa trước đây bao giờ chưa
|
10
|
10
|
(Nguồn: Số liệu điều tra)
|
Nội dung câu hỏi
|
Nội dung câu trả lời
|
|||
|
1. Mục đích của ông/bà khi tới khám phá các nét văn hóa đặc trưng của dân tộc Cờ Lao là gì?
|
Tham quan
|
Giải trí
|
Tâm linh
|
Khác
|
|
10
|
5
|
5
|
0
|
|
|
2. Khi tham quan và trải nghiệm các giá trị văn hóa của dân tộc Cờ Lao, Ông/bà ấn tượng nhất về điều gì?
|
Cảnh quan
|
Hiện vật
|
Giá trị tinh thần
|
Tất cả yếu tố trên
|
|
0
|
0
|
0
|
20
|
|
|
3. Ông/bà có nhận xét gì về các mặt hàng lưu niệm được làm từ người dân Cờ Lao
|
Đa dạng, hấp dẫn
|
Tinh xảo
|
Bình thường
|
-
|
|
0
|
20
|
0
|
|
|
|
4. Ông/bà có nhận xét gì về ẩm thực của người Cờ Lao?
|
Phong phú
|
Nghèo nàn
|
-
|
-
|
|
20
|
0
|
-
|
-
|
|
(Nguồn: Phiếu điều tra)
Nhu cầu và mục đích của du khách thì vô cùng phong phú và đa dạng. Nhiệm vụ của người làm du lịch là phải đáp ứng một cách tốt nhất những nhu cầu của khách nhưng phải là những nhu cầu chính đáng. Mỗi một du khách chọn lựa một loại hình du lịch khác nhau với mục đích khác nhau, tuy nhiên cũng có những người cùng tìm đến với một loại hình du lịch nhưng để đáp ứng những nhu cầu không giống nhau. Mục đích của các du khách trải nghiệm du lịch văn hóa đều là vì tò mò về yếu tố tâm linh là chủ yếu, một số du khách đến để thăm quan và giải trí thẩm nhận các giá trị văn hóa. Để đáp ứng nhu cầu mua sắm của du khách trong quá trình tham quan du lịch, Du khách có thể lựa chọn và tìm mua cho mình những mặt hàng lưu niệm khác nhau với các mặt hàng tinh xảo nhưng không đa dạng, vì dân tộc Cờ lao chỉ có đan lát là chủ yếu. Tuy nhiên ẩm thực thì được các thực khách hài lòng về ẩm thực phong phú với các đặc sản: thắng cố, thịt trâu gác bếp, cá ruộng, xôi ngũ sắc…. đem đến những trải nghiệm ẩm thực khó quên.
4. Kết luận
3. Đẩy mạnh công tác hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch gắn với bảo vệ thiên nhiên, sinh thái, hỗ trợ quảng bá, đa dạng hóa các loại hình, các sản phẩm du lịch; khai thác hợp lý các tiềm năng, di tích, danh thắng phát triển du lịch đáp ứng tốt nhu cầu của các du khách tìm hiểu và trải nghiệm văn hóa của dân tộc Cờ Lao.
Một số hình ảnh các nét văn hóa của dân tộc Cơ Lao
Hình .1. Nếp nhà truyền thống của người Cờ Lao
Hình 3. Nét thờ cúng của dân tộc Cờ Lao
Nguyễn Thùy Linh