Phương pháp giảng dạy tích cực là một triết lý giáo dục hiện đại, đặt người học vào vị trí trung tâm của quá trình tiếp thu kiến thức. Thay vì thụ động tiếp nhận thông tin, người học được khuyến khích tham gia tích cực vào các hoạt động học tập tương tác, tự mình khám phá, tìm tòi và ứng dụng kiến thức vào thực tiễn. Trong vai trò này, giảng viên không còn là người truyền đạt kiến thức một chiều mà trở thành người tổ chức, hướng dẫn và hỗ trợ, tạo môi trường thuận lợi để người học phát huy tối đa tiềm năng của bản thân.
Điểm nổi bật của phương pháp giảng dạy tích cực là sự dịch chuyển trọng tâm từ giảng viên sang người học. Người học không chỉ là người tiếp nhận mà còn là người chủ động kiến tạo tri thức. Điều này thể hiện rõ qua các hoạt động như: Tự tìm tòi, khám phá: Người học được khuyến khích tự nghiên cứu, tìm hiểu các vấn đề, đặt câu hỏi và tìm kiếm câu trả lời thay vì chỉ nghe giảng. Chủ động tham gia: Các buổi học thường xuyên diễn ra sôi nổi với các hoạt động làm việc nhóm, thảo luận, trao đổi ý tưởng, tạo ra sự tương tác đa chiều giữa người học với nhau và với giảng viên. Thực hành và trải nghiệm: Kiến thức không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà được đưa vào thực hành thông qua các dự án, tình huống thực tế, đóng vai, giúp người học củng cố hiểu biết và phát triển kỹ năng ứng dụng.
Khoa Quản lý tài nguyên là một trong số các đơn vị đào tạo của Trường Đại học Nông Lâm. Tổng số người học trong các chương trình đào tạo gồm các đào tạo sau đại học, đại học chính quy, đào tạo từ xa, vừa làm vừa học của khoa hiện nay có khoảng 1350 người học cho các chuyên ngành Quản lý đất đai, Quản lý tài nguyên và môi trường, Quản lý phát triển đô thị và bất động sản, Quản lý tài nguyên và du lịch sinh thái.
Trong quá trình đào tạo và giảng dạy, tập thể khoa luôn đặt nhiệm vụ đối với giảng viên về việc đổi mới phương pháp đào tạo truyền thống bằng phương pháp giảng dạy hoà nhập tích cực để tạo sự dịch chuyển trọng tâm từ giảng viên sang người học, thúc đẩy để người học không chỉ là người tiếp nhận mà còn là người chủ động kiến tạo tri thức.
Để đánh giá được những kết quả đã thực hiện và kế hoạch trong thời gian tới. Khoa Quản lý tài nguyên trình báo cáo về quá trình tổ chức với các nội dung chính như sau.
II. NỘI DUNG BÁO CÁO
1. Tình hình triển khai
Với sứ mệnh đào tạo cán bộ trình độ đại học, sau đại học, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực quản lý tài nguyên phục vụ phát triển kinh tế, xã hội và hội nhập quốc tế cho khu vực trung du, miền núi phía Bắc và cả nước. Khoa Quản lý tài nguyên xác định mục tiêu chiến lược cho các chương trình đào tạo của khoa là cung cấp nguồn nhân lực trong lĩnh vực quản lý tài nguyên, giỏi chuyên môn, có năng lực lãnh đạo, kỹ năng mềm, đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động và có khả năng hội nhập quốc tế. Tạo ra những sản phẩm khoa học chất lượng cao trong lĩnh vực quản lý tài nguyên phục vụ phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam và trên thế giới.
Trong quá trình tổ chức và thực hiện chương trình đào tạo, khoa Quản lý tài nguyên luôn xác định phương pháp truyền tải thông tin, phương pháp giảng dạy đối với người học có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của chương trình đào tạo, bởi vì nó quyết định cách thức mà kiến thức, kỹ năng và thái độ được truyền tải, tiếp thu.
Năm 2019, tham gia hợp phần thứ 3 "Nâng cao chất lượng đào tạo của các trường đại học miền núi phía Bắc" trong chương trình Úc cùng Việt Nam phát triển nguồn nhân lực (Aus4Skills). Tập thế giảng viên khoa đã được tiếp cận phương pháp giảng dạy tích cực với việc cần phải chú trọng phát triển toàn diện các năng lực cốt lõi cần thiết cho người học, bao gồm:
- Tư duy phản biện và sáng tạo: Người học được khuyến khích đặt câu hỏi, phân tích vấn đề, đưa ra các ý tưởng mới và thử nghiệm giải pháp độc đáo.
- Kỹ năng giải quyết vấn đề: Thông qua việc đối mặt với các tình huống thực tiễn, người học rèn luyện khả năng phân tích, lập kế hoạch và thực thi để tìm ra giải pháp hiệu quả.
- Làm việc nhóm và giao tiếp: Các hoạt động nhóm giúp người học rèn luyện kỹ năng hợp tác, lắng nghe, trình bày ý kiến và phản biện một cách hiệu quả;
- Tự học và học tập suốt đời: Giúp người học hình thành thói quen chủ động tìm kiếm kiến thức, tự đánh giá và điều chỉnh quá trình học tập của mình, từ đó phát triển khả năng tự học và học tập suốt đời.
Năm 2022, tham gia hội thảo “Chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy và đánh giá học phần nhằm nâng cao chất lượng đào tạo” do Trường Đại học Nông Lâm tổ chức. Tập thể giảng viên khoa Quản lý tài nguyên đã được tiếp cận những triết lý giáo dục và phương pháp giảng dạy từ các nước tiên tiến, đặc biệt là những kinh nghiệm giảng dạy trực tuyến sau dịch COVID 19. Từ đó, nhân rộng mô hình phương pháp giảng dạy tích cực trong đào tạo nhằm tạo ra thay đổi sự tiếp cận nội dung các môn học. Tập thể khoa bằng nhiều hình thức như dự giờ giảng của các thầy cô giảng viên, tham gia tư vấn, tập huấn về kiến thức chuyên môn, tư vấn về dịch vụ khoa học công nghệ để học hỏi kinh nghiệm nhằm nâng cao kinh nghiệm
Tiếp tục nâng cao chất lượng chương trình đào tạo với phương pháp giảng dạy tích cực. Năm 2025, Trường Đại học Nông Lâm tổ chức hội nghị nhân rộng phương pháp giảng dạy tích cực trong toàn trường.
Tại hội nghị, các thầy cô giảng viên khoa được tiếp cận và tham gia trình bày những kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình giảng dạy. Qua đó, tiếp tục tập trung vào những vấn đề chính như sau:
- Thực hiện quá trình giảng dạy theo hướng phát triển năng lực giúp sinh viên rèn luyện các kỹ năng như: Giao tiếp, làm việc nhóm; Tư duy phản biện, giải quyết vấn đề; Tự học, tự nghiên cứu. Những kỹ năng này là cốt lõi của chương trình đào tạo hiện đại và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đầu ra.
- Thiết lập một môi trường giảng dạy linh hoạt, sáng tạo sẽ tạo điều kiện để đánh giá chương trình sát thực tế, đổi mới nội dung, học liệu. Giúp người học thích ứng nhanh với sự thay đổi của xã hội và thị trường lao động.
- Sử dụng các phương pháp giảng dạy phải phù hợp với triết lý giáo dục và mục tiêu chương trình (học thuật, nghiên cứu, ứng dụng, nghề nghiệp) sẽ liên kết với mục tiêu đào tạo và chuẩn đầu ra. Nếu phương pháp giảng dạy không phù hợp, chuẩn đầu ra sẽ khó đạt được, ảnh hưởng đến uy tín và chất lượng đào tạo. Cần xác định phương pháp giảng dạy là “cầu nối” giữa nội dung chương trình và người học. Nếu được lựa chọn và triển khai hợp lý, nó sẽ nâng cao chất lượng đào tạo đại học một cách rõ rệt.
- Thực hiện phương pháp giảng dạy hòa nhập tích cực (thảo luận, dự án, tình huống, học qua trải nghiệm...) giúp sinh viên chủ động tiếp cận, phân tích và vận dụng kiến thức thực tế. Phương pháp giảng dạy cần sáng tạo, gắn với thực tiễn sẽ tăng sự hứng thú học tập, giảm tỷ lệ bỏ học, học đối phó, gắn kết sinh viên với ngành học.
2. Kết quả đạt được
Qua thời gian được tiếp cận các phương pháp đào tạo, các thầy cô giảng viên khoa Quản lý tài nguyên đã vận dụng linh hoạt các phương pháp giảng dạy hòa nhập tích cực trong các điều kiện thực tế. Trong năm học 2024-2025, có nhiều học phần trong quá trình giảng dạy đã áp dụng phương pháp giảng dạy tích cực, cụ thể:
Số lượng các học phần giảng dạy theo phương pháp hòa nhập tích cực
TT |
Giảng viên |
Học phần |
Thời gian |
Số SV |
Địa điểm |
---|---|---|---|---|---|
|
TS. Nguyễn Đức Nhuận |
XD và QLDA |
HK1 |
34 |
D402 |
|
TS. Nguyễn Quang Thi |
Định giá đất và BĐS |
HK1 |
33 |
D102 |
|
TS. Trương Thành Nam |
Tổ chức sự kiện |
HK1 |
11 |
C2 |
|
TS. Nguyễn Thu Thuỳ |
Thổ nhưỡng |
HK1 |
35 |
C10 |
|
TS. Nông Thị Thu Huyền |
Khoa học phong thủy |
HK1 |
34 |
D404 |
|
TS. Hoàng Hũu Chiến |
Du lịch sinh thái |
HK1 |
7 |
C2 |
|
TS. Trần Thị Mai Anh |
Khởi sự kinh doanh |
HK1 |
11 |
C2 |
|
TS. Vũ Thị Kim Hảo |
Thị trường BĐS |
HK1 |
34 |
D402 |
|
ThS. Vương Vân Huyền |
Nhà nước và pháp luật |
HK1 |
15 |
D402 |
|
TS. Nguyễn Ngọc Anh |
Hệ thống thông tin đất |
HK1 |
34 |
D404 |
|
ThS. Nguyễn Đình Thi |
Địa lý du lịch |
HK1 |
11 |
C2 |
|
TS. Vũ Thị Thanh Thuỷ |
Quản trị KD khách sạn |
HK1 |
11 |
C2 |
|
TS. Nguyễn Đức Nhuận |
QLTN Nước &KS |
HK2 |
29 |
D403 |
|
TS. Nguyễn Quang Thi |
Quản lý KD lữ hành |
HK2 |
11 |
C2 |
|
TS. Nông Thị Thu Huyền |
Đánh giá đất |
HK2 |
27 |
D402 |
|
TS. Hoàng Hữu Chiến |
Đại lý kinh tế Việt Nam |
HK2 |
30 |
D501 |
|
ThS. Nguyễn Thuỳ Linh |
TL và NTGT trong du lịch |
HK2 |
11 |
C2 |
|
ThS. Nguyễn Đình Thi |
Tổng quan du lịch |
HK2 |
11 |
C1 |
Tổng |
18 giảng viên |
18 học phần |
|
389 |
|
Một số ý kiến phản hồi từ sinh viên được học tập khi các giáo viên áp dụng thực hiện phương pháp giảng dạy tích cực cho rằng phương pháp này đã giúp nhiều cho sinh viên được chủ động hơn trong việc nghiên cứu nội dung giảng viên muốn truyền tải. Sự tự tin trong giao tiếp, mối quan hệ trong hoạt động nhóm đã khuyến khích cho các sinh viên tăng dần kỹ năng trong hoạt động cộng đồng, giải quyết vấn đề theo nhóm.
3. Thuận lợi và khó khăn
Qua việc thực hiện phương pháp giảng dạy tích cực trong công tác đào tạo, một số những thuận lợi cần được phát huy và hạn chế có thể nhận thấy như sau:
- Quá trình giảng dạy phương pháp tích cực giúp phát triển năng lực của sinh viên, nâng cao các kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm, khả năng tư duy phản biện và giải quyết vấn đề chủ động, thúc đẩy việc tự học, tự nghiên cứu. Những kỹ năng này là cốt lõi của chương trình đào tạo hiện đại và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đầu ra.
- Thiết lập một môi trường giảng dạy linh hoạt, sáng tạo sẽ tạo điều kiện để đánh giá chương trình sát thực tế, đổi mới nội dung, học liệu. Trong quá trình học tập, sinh viên được khuyến khích đặt câu hỏi, phân tích vấn đề, đưa ra các ý tưởng mới và thử nghiệm giải pháp độc đáo.
- Để khuyến khích sinh viên tự tìm hiểu, tự học, tự nghiên cứu về chủ đề do giảng viên đưa ra. Việc tra cứu, tìm hiểu từ nguồn internet phụ thuộc vào hệ thống mạng nhà trường tại các phòng học đảm bảo ổn định. Do vậy, phải quy hoạch, thiết kế hệ thống internet phù hợp, có cơ chế kiểm soát người dùng chặt chẽ để tránh trường hợp sử dụng không đúng mục đích phục vụ học tập, nghiên cứu.
- Các học phần lý thuyết thường không có vật tư (giấy A0, giấy màu, bút phớt (Felt-pen), ...). Đối với các học phần thực hành việc chuẩn bị vật tư thực hành, thanh quyết toán tiền mua sắm vật tư đều do giảng viên giảng dạy. Trong nhiều trường hợp, việc chuẩn bị không kịp thời do kế hoạch phê duyệt chưa phù hợp thời gian, giảng viên không có kinh nghiệm trong việc mua sắm và thanh quyết toán nên dẫn đến việc không đảm bảo đáp ứng vật tư phục vụ học tập.
- Một số sinh viên không có động lực học, đi học đại học bởi nhiều nguyên nhân nên dẫn đến việc thờ ơ, không tham gia và phối hợp với các giảng viên.
III. ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ
Với những ưu điểm, lợi thế và một số những kháo khăn, hạn chế việc thực hiện phương pháp giảng dạy tích cực trong quá trình đào tạo. Những đề xuất cần xem xét giải quyết trong thời gian tới.
- Nhà trường tiếp tục chỉ đạo, quán triệt và có cơ chế thúc đẩy việc thực hiện lan tỏa phương pháp giảng dạy tích cực của các cá nhân và tập thể (giảng viên và đơn vị đào tạo).
- Tổ chức các cuộc thi, chia sẻ kinh nghiệm, đặc biệt là sự vận dụng trí tuệ nhân tại (AI) trong quá trình giảng dạy lý thuyết và thực hành. Trong điều kiện hạn chế về vật tư thực hành có thể thay đổi các mô hình thực hành bằng các mô phỏng trên nền tảng số, trực tuyến để sinh viên dễ tiếp cận, dễ hiểu. Hoặc có cơ chế mua sắm vật tư, thanh quyết toán thuận lợi (khoán chi) để giảng viên thuận lợi trong việc sử dụng vật tư.
- Từng bước tiếp tục trang bị về các điều kiện tại phòng học trong điều kiện phù hợp
IV. KẾT LUẬN
Phương pháp giảng dạy tích cực là một triết lý giáo dục hiện đại, đặt người học vào vị trí trung tâm của quá trình tiếp thu kiến thức. Thay vì thụ động tiếp nhận thông tin, người học được khuyến khích tham gia tích cực vào các hoạt động học tập tương tác, tự mình khám phá, tìm tòi và ứng dụng kiến thức vào thực tiễn.
Khoa Quản lý tài nguyên, một trong số các đơn vị đào tạo của Trường Đại học Nông Lâm. Với sứ mệnh đào tạo cán bộ trình độ đại học, sau đại học, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực quản lý tài nguyên phục vụ phát triển kinh tế, xã hội và hội nhập quốc tế cho khu vực trung du, miền núi phía Bắc và cả nước.
Trong thời gian qua, các giảng việc khoa đã vận dụng linh hoạt phương pháp giảng dạy tích cực trong điều kiện thực tế nhằm phát triển năng lực của sinh viên. Nâng cao các kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm, khả năng tư duy phản biện và giải quyết vấn đề chủ động, thúc đẩy việc tự học, tự nghiên cứu của sinh viên. Để có nhưng kinh nghiệm trong phương pháp giảng dạy, BCN khoa và các bộ môn đã chỉ đạo, phối hợp và tạo mọi điều kiện để các giảng viên có cơ hội làm việc, tham gia tập huấn và triển khai thực hiện tư vấn chuyển giao khoa học công nghệ để nâng cao kinh nghiệm làm việc.
Trong những năm học tiếp theo, BCN khoa sẽ tiếp tục chỉ đạo các bộ môn phối hợp, hỗ trợ các giảng viên để tiếp tục lan tỏa và thực hiện phương pháp giảng dạy tích cực nhằm tạo một môi trường giảng dạy linh hoạt, sáng tạo, nhằm đảm bảo các chương trình đào tạo sát thực tế, đáp ứng chuẩn đầu ra.