Nghiên cứu được thực hiện nhằm xây dựng bản đồ đơn vị đất đai (LMU) cho khu vực phía Đông dãy Tam Đảo, tỉnh Thái Nguyên với diện tích 32.242,74 ha, trên cơ sở tổng hợp các yếu tố tự nhiên và đặc tính đất đai. Nghiên cứu sử dụng phương pháp thu thập số liệu thứ cấp, phân tích, lựa chọn và phân cấp các chỉ tiêu đất đai kết hợp ứng dụng GIS để xây dựng bản đồ đơn vị đất đai từ 6 yếu tố gồm: loại đất, thành phần cơ giới, độ dày tầng canh tác, độ phì, độ dốc và chế độ tưới. Kết quả xác định được 131 đơn vị đất đai với 633 khoanh đất, trong đó có 58 khoanh diện tích trên 100 ha và khoanh nhỏ nhất là 12,36 ha, 14.592,95 ha có điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp như thành phần cơ giới trung bình, độ dầy tầng đất >70 cm, độ dốc 8-250. Tuy nhiên, diện tích có khả năng tưới chủ động còn thấp (5.032,23 ha) là hạn chế lớn đối với phát triển nông nghiệp khu vực. Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho công tác đánh giá, phân hạng thích hợp đất đai và định hướng quản lý chất lượng đất.
Xem thêm
Nghiên cứu khảo sát đặc điểm và sự tích lũy vi nhựa trong bùn trầm tích sông Cầu tại ba vị trí thuộc đoạn chảy qua thành phố Thái Nguyên. Mức độ nhiễm vi nhựa trong bùn trầm tích sông Cầu đoạn chảy qua thành phố Thái Nguyên có hàm lượng dao động từ 250-900 hạt/kg, tại VT1 (đoạn phía nam thành phố) 900±3,7 hạt/kg, sau đó đến VT3 (đoạn trung tâm thành phố) và VT2 (đoạn phía bắc thành phố) với giá trị trung bình tương ứng là 550,0±4,8 hạt/kg và 250±2,3 hạt/kg. Các hạt vi nhựa có kích thước từ trung bình đến lớn, với các hình dạng phổ biến là mảnh (59,2%), bọt (20,4%), sợi (13,7%) và film (6,7%), cùng các màu sắc chính như vàng, trắng/trong suốt, nâu, xanh da trời. Thành phần vi nhựa bao gồm polyethylene (PE), Polyethylene Terephthalate (PET), Natri Alginate Polyme (Sodium Alginate - SA), Ethylene Propylene Rubber (EPR), cao su Neoprene (CR), Natural Latex Rubber (NLR), Ethylene Propylene Diene Monomer (EPDM), Polypropylene (PP) trong đó PE, PET, PP chiếm tỷ lệ đa số (68,3%). Sự khác biệt giữa các vị trí khảo sát cho thấy cần chú trọng kiểm soát nguồn thải nhựa và theo dõi sự tích lũy vi nhựa trong trầm tích để bảo vệ môi trường sông Cầu. Vi nhựa phân bố không đồng đều theo không gian, phản ánh ảnh hưởng tác động của mật độ dân số và các hoạt động sinh hoạt đến sự ô nhiễm vi nhựa. Kết quả này nhấn mạnh sự cần thiết của các biện pháp quản lý bền vững để bảo vệ nguồn tài nguyên nước cũng như đất bùn thải trầm tích sông Cầu trong bối cảnh áp lực từ phát triển kinh tế-xã hội và sử dụng sản phẩm nhựa ngày càng gia tăng.
Xem thêm
Nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của pH tới sự giảm nồng độ phospho (P) trong dung dịch mô phỏng khi bổ sung sắt(II) với định hướng tạo khoáng Vivianite. Dung dịch mô phỏng được pha từ KH₂PO₄, có nồng độ P đầu vào 500,01 ± 0,14 mg/L. Các thí nghiệm lần lượt khảo sát ở khoảng giá trị pH 6–9 và thời gian phản ứng 15–60 phút. Trong phạm vi khảo sát, pH 8, tỷ lệ mol Fe/P 1,5:1 và thời gian 60 phút được lựa chọn cho thử nghiệm trên mẫu thực. Ở thời gian 60 phút, nồng độ P trong dung dịch mô phỏng giảm còn 51,78 ± 0,31 mg/L; hiệu suất đạt 89,645%. Đối với mẫu nước thải sau biogas cho thấy cho nồng độ P đầu ra 1,84; 1,86; 1,84 mg/L, với hiệu suất tương ứng trong nguồn là 94,90%; 94,84%; 94,90%. Kết quả nghiên cứu cho thấy triển vọng loại bỏ P (PO₄³⁻) bằng bổ sung muối sắt(II) tạo kết tủa định hướng hình thành vivianite là hướng đi xanh cho công tác bảo vệ môi trường.
Xem thêm
Nghiên cứu đánh giá công tác đăng ký đất đai và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) tại phường An Tường, tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2023–2025. Đến 31/12/2025, phường đã cấp GCNQSDĐ cho 1.170 ha (đạt 95,3% diện tích cần cấp), gồm 96,3% đất phi nông nghiệp và 94,2% đất nông nghiệp. Giai đoạn 2023–2025, địa phương tiếp nhận 1.260 hồ sơ và giải quyết 1.217 hồ sơ (96,6%). Việc áp dụng Luật Đất đai 2024 và Thông tư 10/2024/TT-BTNMT giúp đẩy mạnh số hóa, phân cấp và chuẩn hóa quy trình. Tuy nhiên, vẫn còn 4,7% diện tích chưa được cấp do nguồn gốc đất phức tạp và tranh chấp.
Xem thêm
Kết quả nghiên cứu đã xây dựng bản đồ và cơ sở dữ liệu độ dốc Phía Bắc tỉnh Thái Nguyên dựa trên việc sử dụng phần mềm Arc GIS, Global Mapper và nguồn dữ liệu mô hình số độ cao từ nguồn dữ liệu độ cao toàn cầu. Bản đồ phân cấp độ dốc được xây dựng có tỷ lệ 1/25.000 kèm theo là cơ sở dữ liệu thuộc tính số lượng khoanh đất và diện tích theo các cấp độ dốc. Tổng số khoanh đất xác định được là 155.939 khoanh với diện tích 91.135,65 ha gồm 8 cấp độ dốc. Cấp I (<30) có 11.152 khoanh với diện tích 2.991,33 ha, cấp II (30-80) có 18.198 khoanh với diện tích 13.582,99 ha, cấp III (80-150) có 25.083 khoanh với diện tích 23.262,60 ha, cấp IV (150-200) có 35.307 khoanh với 16250,53 ha, cấp V (200-250) có 29.821 khoanh với diện tích 14.625,34 ha, cấp VI (250-300) có 21.257 khoanh với diện tích 10.423 ha, cấp VII (300-350) có 12.440 khoanh với diện tích 5.932,89 ha, cấp VIII (>350) có 2.681 khoanh với diện tích 4.066,97 ha, đất có mặt nước chuyên dùng 1,52 ha, đất sông suối 652,05 ha. Kết quả nghiên cứu sẽ là nguồn dữ liệu quan trọng trong xây dựng bản đồ đất hoặc ứng dụng hệ thống thông tin địa lý trong chồng xếp các bản đồ đơn tính khi đánh giá tiềm năng đất và định hướng sử dụng đất tương lai cho Phía Bắc tỉnh Thái Nguyên.
Xem thêm
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng các nhóm điều kiện liên quan đến phát triển bền vững du lịch cộng đồng tại Bản Tèn, tỉnh Thái Nguyên dưới góc nhìn của cộng đồng địa phương. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập thông qua khảo sát 140 hộ dân bằng bảng hỏi, được xử lý bằng phương pháp thống kê mô tả, phân tích khoảng cách và ma trận SWOT. Kết quả cho thấy nhóm điều kiện tài nguyên - bản sắc được cộng đồng đánh giá cao nhất (Mean = 4,43) là nhóm duy nhất vượt ngưỡng quy ước 4,0 của nghiên cứu, khẳng định vai trò của cảnh quan tự nhiên và bản sắc văn hóa dân tộc Mông là lợi thế cốt lõi của điểm đến. Ngược lại, các nhóm điều kiện về hạ tầng – tiếp cận (Mean = 2,53; Gap = -1,48), dịch vụ – sản phẩm (Mean = 3,18; Gap = -0,82) và cộng đồng – nguồn nhân lực (Mean = 3,36; Gap = -0,64) còn nhiều hạn chế và là những điểm nghẽn chính đối với quá trình phát triển. So sánh với TCVN 13259:2020 và ASEAN Community Based Tourism Standard cho thấy khung khảo sát hiện bao quát tương đối các nội dung về tài nguyên, tiếp cận, dịch vụ và năng lực cộng đồng, nhưng chưa đo riêng các chiều cạnh môi trường và quản trị/chia sẻ lợi ích. Theo phân tích SWOT, Bản Tèn có nhiều tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng nhờ nguồn tài nguyên đặc sắc và sự quan tâm của chính quyền địa phương, song cần ưu tiên đầu tư hạ tầng, nâng cao năng lực cộng đồng, đa dạng hóa sản phẩm du lịch và tăng cường liên kết thị trường nhằm nâng cao tính bền vững và năng lực cạnh tranh của điểm đến. Từ khóa: Du lịch cộng đồng; Gap Analysis; SWOT; Bản Tèn; Thái Nguyên
Xem thêm
Nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của thời gian, khối lượng vật liệu và động học hấp phụ phốt pho từ nước thải chăn nuôi lợn sau biogas bằng vật liệu than sinh học được sản xuất từ mùn cưa gỗ keo. Thí nghiệm được tiến hành để khảo sát ảnh hưởng của thời gian tiếp xúc (1- 6 giờ) và khối lượng vật liệu (0,2 - 1,0 g) trong điều kiện pH trung tính (≈7). Kết quả cho thấy quá trình hấp phụ đạt trạng thái cân bằng sau khoảng 5 giờ, với dung lượng hấp phụ cực đại 8,46 mg/g và hiệu suất xử lý 42,75%. Khi tăng khối lượng vật liệu từ 0,2 g lên 1,0 g, hiệu suất loại bỏ phốt pho tăng từ 42,3% lên 64,1%, trong khi dung lượng hấp phụ giảm từ 8,37 mg/g xuống 2,54 mg/g. Trong ba mô hình động học được xem xét (mô hình giả bậc nhất, giả bậc hai và Elovich), mô hình giả bậc hai mô tả tốt nhất quá trình hấp phụ (R² = 0,993), cho thấy cơ chế hấp phụ chủ yếu là hóa học thông qua các nhóm chức oxy (-OH, C=O) và sự kết tủa với ion Ca²⁺ còn lại trên bề mặt vật liệu.
Xem thêm
Rapid forest loss driven by agricultural expansion, infrastructure development, and land-use pressures poses increasing challenges to sustainable land management in mountainous districts of northern Vietnam, including Võ Nhai District in Thái Nguyên Province. Understanding long-term vegetation dynamics and identifying disturbance patterns are therefore essential for informed environmental planning and conservation strategies. This study presents a comprehensive geospatial analysis of vegetation cover change in Võ Nhai District from 2000 to 2025, with projections to 2050. Multi-temporal Landsat and Sentinel imagery were used to assess vegetation dynamics, with the Normalized Burn Ratio (NBR) employed to detect disturbances such as logging, fire, and land conversion. The LandTrendr algorithm implemented in Google Earth Engine was applied to segment NBR time series and extract the timing, magnitude, and duration of forest disturbance and recovery events. In addition, land cover classifications were produced and integrated into a Cellular Automata–Markov (CA–Markov) model to predict future land cover changes. The results reveal substantial forest decline, particularly near agricultural boundaries, roads, and settlements, alongside localized areas of vegetation regrowth, reflecting strong spatial heterogeneity in land cover dynamics. The findings highlight the urgency of continued satellite-based monitoring and demonstrate the value of integrating time-series analysis and predictive modeling to support evidence-based land-use planning and targeted conservation measures in Võ Nhai District.
Xem thêm
Đề tài đã đánh giá thực trạng công tác cấp GCNQSDĐ tại xã Đô Lương, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn 2025 - 2026. Kết quả cho thấy: Kết quả đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở: Trong giai đoạn này có 2.207 hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận đất ở, với tổng diện tích là 88,43 ha. Số hồ sơ được phê duyệt cấp thời gian này là 1.745, đạt tỷ lệ bình quân là 79,1 %. Vẫn còn 462 hồ sơ được xác định là chưa đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận, chiếm 20,9 %. Kết quả đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp: Trong năm 2025 và quý I năm 2026 trên địa bàn xã Đô Lương, tỉnh Nghệ An có 1.576 hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận đất nông nghiệp, với tổng diện tích là 461,35 ha. Số hồ sơ được phê duyệt cấp giấy chứng nhận trong giai đoạn này là 1.289, đạt tỷ lệ bình quân là 83,11 %. Vẫn còn 287 hồ sơ được xác định là chưa đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận, chiếm 16,89 %. Nghiên cứu đã chỉ ra được những thuận lợi cơ bản, những khó khăn, hạn chế và đề xuất được 05 nhóm giải pháp khắc phục cho công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của xã Đô Lương, tỉnh Nghệ An trong tương lai.
Xem thêm
Dữ liệu tự khai báo được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu kinh tế, xã hội, nông nghiệp và quản lý đất đai. Tuy nhiên, độ tin cậy của dữ liệu có thể suy giảm khi câu hỏi liên quan đến hành vi vi phạm quy định, giao dịch không chính thức hoặc những quan điểm mà người trả lời không muốn công khai. Trong các trường hợp này, người tham gia khảo sát có xu hướng điều chỉnh câu trả lời theo hướng được xã hội chấp nhận, tạo ra sai lệch do mong muốn xã hội (social desirability bias). Thực nghiệm danh sách (List Experiment – LE), còn gọi là kỹ thuật đếm mục (Item Count Technique), là một phương pháp hỏi gián tiếp nhằm hạn chế sai lệch này bằng cách không yêu cầu người trả lời tiết lộ trực tiếp hành vi nhạy cảm của cá nhân. Bài viết trình bày nguyên lý, thiết kế, các điều kiện đảm bảo tính hợp lệ, phương pháp phân tích và những hạn chế chủ yếu của LE. Trên cơ sở các nghiên cứu thực nghiệm gần đây, bài viết đồng thời thảo luận tiềm năng ứng dụng LE trong nghiên cứu đất đai. LE có thể bổ sung hữu ích cho phương pháp khảo sát truyền thống, đặc biệt trong những nghiên cứu mà câu hỏi trực tiếp có nguy cơ đánh giá thấp mức độ phổ biến thực tế của hành vi nhạy cảm.
Xem thêm